Hoàng Xuân Hãn chứng nhân lịch sử (Thụy Khê)

Trở lại lúc trước khi ký hiệp ước Hạ Long, ông Bảo Đại định là cụ Kim với ông sẽ lập một chính phủ ở bên nhà. Người Pháp họ lừa ông và cả cụ Kim nữa. Ông ấy nói với họ: “Trước lúc tôi bằng lòng nhận lời, thì tôi phải cho cụ Kim về để mời một số người sang đây họp, rồi chúng tôi sẽ bàn.” Thì Cousseau với Faugère nói: “Được, cụ cứ cho cụ Kim về.” Về đến Sài Gòn, cụ Kim viết một cái thư ra cho tôi nói rằng: “Muốn mời ông sang bên kia nhưng mà tụi Pháp nó không cho, mà nó sắp đầy tôi lên Phnom Penh.”  Sự thực là thế. Tây nó ngăn. Cụ Kim về, nó đẩy lên Phnom Penh, nó để ông Bảo Đại trơ một mình. Sau với một số người như ông Nguyễn Tường Tam, Ông Xuân, một số người mặt trận Nam Kỳ, sang lập cái [nghe không rõ]. Sau ông biết rằng những chuyện ông [Bảo Đại] làm đấy thì trong nước không chấp nhận. Chỉ có một số người lưu vong chấp nhận. Cho nên ông cứ trù trừ. Một mặt thì Tây nó vẫn để cho ông compte ông tiêu tiền.

            Tính ông Bảo Đại là thế. Sau này Tây nó oán lắm chứ không phải nó thích ông Bảo Đại đâu. Nhất là de Lattre, nhiều khi nó ghét lắm. Tôi cũng biết nhiều người Pháp oán lắm. Rồi thì ông ấy biết là không làm gì được. Nhưng hồi Pháp sắp ký  Hội nghị Genève, lúc ấy, chính tôi còn ở Rome. Khi tôi ở bên ấy thì nghe tin phái đoàn Việt Nam đã tới Genève để dự hội nghị, trong có Phan Anh. Tôi lập tức viết thư cho Phan Anh, mừng và hỏi thăm. Phan Anh viết thư trả lời cho tôi ở Paris lập tức, nói là mời anh sang bên này với một số bạn ở đây, ông Hiền, ông Hà -Nguyễn Mạnh Hà-, các ông ấy mời sang. Tôi trở về Paris và sang Genève

Thiên tình sử Hồ Xuân Hương

… tôi nhờ may mắn, tình cờ đã được biết rằng nữ sĩ nổi danh nhất ở nước ta, HỒ XUÂN HƯƠNG, dã có lúc ở trên bờ vịnh HẠ LONG, nhiều lần dong thuyền trên vịnh, và còn đề lại đến nay một số thơ Hán văn Đường luật kỷ niệm cảm tưởng của mình trong những cuộc nhà tư vấn trong những cuộc nhàn du ấy.

Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm

Trong sử nước ta, cách-mệnh Tây-sơn có đặc-điểm này: từ một loạn địa-phương mà lần lần kéo sụp ba triều-đại. Không những lúc ban đầu là nguyên-nhân làm yếu chính-quyền chúa Nguyễn, biến thành cái mồi như quân Trịnh vào Phú-xuân; mà gián-tiếp làm yếu binh-lực Trịnh bởi khuyếch-trương địa-bàn chiếm đóng. Nhờ đó, chỉ một cuộc hành quân mà NGUYỄN HUỆ đã bứt hết chế-độ để vương ở Bắc. Những chính-biên nối tiếp sau, tuy có làm nảy ra hai mầm: vua Chiêu-thống và chúa Yên-dô, nhưng đó là hơi tàn không thể nhóm lên được.

Đồ biểu đối chiếu lịch xưa và công lịch

Đọc cổ-sử Á-đông mỗi lúc gặp một thời-nhật ghi bằng can chi, sử-gia cần đổi ra thời-nhật theo một lịch trường biên như lịch Tây-phương, để tiện so sánh thứ-tự trước sau. Vốn có nhiều phép đối chiếu các lịch đã được lập ra, nhưng phần lớn hoặc khối-lượng to hoặc đơn-giản nhưng phải tính thêm khá phiền-phức.

Tôi cũng đã đặt riêng một vài phương pháp đổi lịch để tự dùng trong khi nghiên-cứu Trung-sử và Việt-sử. Trong năm 1943, tôi đã lần lượt, trong Báo Khoa-học xuất-bản ở Hà-nội, trưng bày những mục:

Đổi năm âm-lịch và dương-lịch (số 18, tháng 4, trang 77-82).

Đổi ngày Tây-lịch và Can-chi (số 19, tháng 7, trang 249-252; và số 10, tháng 8, trang 292-299).

Trải một phần tư thế-kỉ, chiến-tranh dày xéo đất nước ta, đã tiêu-hủy hầu hết thư tịch trong nước. Ngày nay, muốn tìm lại những số báo ấy, không phải dễ. Những phương-pháp của tôi đã lập thành cũng dễ bị mai một. Vậy nên tôi xin đem tái-bản nó lại trong Tập-san Sử-Địa này, họa may có giúp ích một phần nào cho các nhà sử-học.

Bắc hành tùng ký

Ngô Thì-Chí soạn bảy hồi đầu sách Hoàng Lê nhất-thống chí khiến ta biết nhiều việc về Lê-mạt đến ngày vua Cảnh-hưng mất. Sách ấy được những người cùng họ, Ngô Thì-Du, Ngô Thì-Thiền tục-biên cho đến hết đời Tây-Sơn. Từ khi được dịch ra Việt-ngữ, sách này rất được phổ-biến nên không mấy người học-giả không biết đến. Nhờ đó, ngày nay ta còn biết rõ nhiều biến-cố xảy ra trên đất nước ta trong thời-kỳ ấy. Nhưng đối với những vong-thần theo vua Chiêu-thống chạy sang Thanh sau khi quân Tôn Sĩ-Nghị bị tan, thì thiếu nhiều điều mà ta muốn biết.

Trong nhóm vong-thần ấy, Lê Quính còn để lại một tập kí-sự, Bắc hành tùng kí, ghi lại những biến-cố xảy ra có quan hệ đến bản-thân và đến một số nhân-vật liên-quan đến hồi mạt-vận nhà Lê. Tuy rằng phần lớn sách chép về khoảng đời sống trong ngục-thất ở Bắc-kinh, nhưng có đoạn, nhất là trong phần đầu, bổ-túc và cải-chính Hoàng Lê nhất-thống chí và quốc-sử.
Cái quý của sách này là trực-tiếp cho ta biết rành-rọt tiết-tháo của một vong-thần, vốn lìa nước để hòng cầu viện, nhưng lại
bị giữ vì Thanh sợ cuộc bang-giao với Quang-trung bị quấy. Mặc dầu mọi cách ép về tinh-thần rồi về vật-chất, Lê Quính
cùng một nhóm nhỏ không chịu cải-trang, không chịu cắt tóc, không chịu nhận chức-tước và cam chịu cảm tù trong mười ba
năm, cho đến khi triều Tây-Sơn hết, mới được tha, được đem quan-tài Chiêu-thống về nước với tóc dài áo rách lúc ra đi.

Đúng ba trăm năm trước

ĐÚNG BA TRĂM NĂM TRƯỚC ĐẨY ĐÃ TẠM DÙNG CUỘC Trịnh Nguyễn vũ-tranh, nó đã từng kéo giằng-giai trong gần năm chục năm. Hai quân-đội Bắc Nam xô-xát nhau lần đầu vào năm 1627. Lần cuối vào khoảng cuối năm 1672, bắt đầu một chiến-dịch lớn-lao trước các lũy Trần-ninh và Đồng-hới. Đầu năm 1673, hai quân đều kiệt-quệ. Quân Trịnh rút về bờ bắc sông Gianh. Tuy không giao-ước, hai triều Trịnh Nguyễn dừng hẳn chiến-tranh trong khoảng một trăm năm. Trong gần 200 năm ấy, dân-tộc Việt phải chịu chia lìa ra người Nam và người Bắc.

Muốn kỷ-niệm biến-cố lịch-sử ấy, tôi sẽ phác qua những giai-đoạn kinh-thị và chiến-tranh giữa hai họ Trịnh Nguyễn từ đầu đến năm ngừng chiến. Rồi nhân muốn giới-thiệu với độc-giả một quyển dã-sử xưa, Nam-triều Công-nghiệp diễn chỉ, tôi sẽ kể những chi-tiết trận cuối cùng ấy, bằng cách dịch nguyên văn rút từ sách kia

Việt Thanh chiến sự – theo Ngụy Nguyên một sử gia Trung Quốc đời Thanh

Cuộc Việt Thanh giao chiến cách nay chưa lâu, nhưng những tài-liệu thư-tịch liên-quan đến không thấy mấy.

Ban đầu, những sử-gia Việt viết chuyện Tây-Sơn chỉ biết những tài-liệu Việt: hoặc chính-sử như Đại-nam Thực-lục, Đại-nam Liệt-truyền, hoặc ngoại-sử như Lê quý kỷ sự, Hoàng Lê nhất thống chí.

Nhưng khi xét sử mọi cuộc chiến-tranh, còn có phần chắc tìm được tài-liệu ở đối-phương. Mà sự ấy rất cần, vì kẻ biên chép ở phe nào thường bệnh-vực phe ấy. Chỉ theo một bên thì hay trở nên tây-vị. Trong cuộc Việt Thanh giao chiến, Quang-Trung đã lập một vũ-công đặc-biệt, mà mọi sử sách ta, tuy là do những kẻ phò kẻ nội-dịch là Nguyễn Ánh viết nên, đều ca ngợi. Nhưng giá như không có tài-liệu do người Thanh hoặc kẻ bằng-quan khẳng-nhận, thì độc-giả ngày nay có lẽ để nghi ngờ. Vì những lẽ ấy, ta nên ra công tìm những sử-liệu đời Thanh liên-quan với cuộc chiến-tranh ấy

Vụ Bắc sứ năm Canh Thìn đời Cảnh Hưng với Lê Quý Đôn và bài trình bằng văn nôm

Ngày 28 tháng giêng năm Cảnh-hưng thứ 21, là năm canh-thìn (1760), đúng giờ Thìn (9 giờ sáng), sứ-bộ vượt sông Nhị, từ bến Hàng Bè thẳng sang làng Ái-mộ, để lên đường đi sứ nước Đại-thanh. Đó là một thịnh-sự đang thời, cách sáu năm mới có một lần, và cũng là cái mộng tột cao của kẻ nho-gia văn-sĩ. Huống chi trong sứ-bộ lần này có vị phó-sứ rất trẻ tuổi mà tài-hoa đang nổi rầy khắp kinh kỳ. Ấy là ông bằng-nhân LÊ QUÍ-ĐÔN bấy giờ mới ba mươi ba tuổi. Tuổi trẻ chừng ấy mà ông được dự phần thay mặt vua Lê đối với Thiên-triều; đó là bởi tài văn-chương, trí mẫn-tiệp của ông. Lại thêm có óc rất khoa-học, ông đã ghi chép tường-tận tất cả mọi sự xảy ra từ khi mở được đoạn trình cho đến khi xong sứ-dịch trở về. Nhờ sách Bắc-sử thông lục (北使通錄) của ông, nay còn lại nữa phải (1), mà ta được biết nhiều chi-tiết của một cuộc đi sứ Trung-quốc ngày xưa, và nhất là ta còn có một bài tường-trình đầy-đủ về sứ-dịch bằng chữ Nôm, nó giúp ta biết rõ Việt-ngữ thường dùng giữa thế-kỷ 18

Quần đảo Hoàng Sa

“Quần-đảo Hoàng-sa là đất của Việt-Nam, hoặc nói cho hợp hơn, là đất của Đại-Việt từ khi dân Việt định-cư ở phủ Tư-nghĩa, tức
là đất Quảng-Ngãi ngày nay.

Bút chứng cũ nhất và đầy-đủ nhất thấy trong sách Phủ biên tập lục, Lê Quí-Đôn soạn vào năm 1776, với những tư-liệu của các chúa Nguyễn. Sau đó, các sứ-gia, địa-gia đời vua Nguyễn đều dựa theo đó và thêm-thất việc mới vào. Về đồ về, các « bản đồ » và « lộ-đồ » đời Lê cũng có ghi một cách sơ-sài cái « bãi cát vàng » hoặc « bãi Trường-sa » ấy.”