Bắc hành tùng ký

Ngô Thì-Chí soạn bảy hồi đầu sách Hoàng Lê nhất-thống chí khiến ta biết nhiều việc về Lê-mạt đến ngày vua Cảnh-hưng mất. Sách ấy được những người cùng họ, Ngô Thì-Du, Ngô Thì-Thiền tục-biên cho đến hết đời Tây-Sơn. Từ khi được dịch ra Việt-ngữ, sách này rất được phổ-biến nên không mấy người học-giả không biết đến. Nhờ đó, ngày nay ta còn biết rõ nhiều biến-cố xảy ra trên đất nước ta trong thời-kỳ ấy. Nhưng đối với những vong-thần theo vua Chiêu-thống chạy sang Thanh sau khi quân Tôn Sĩ-Nghị bị tan, thì thiếu nhiều điều mà ta muốn biết.

Trong nhóm vong-thần ấy, Lê Quính còn để lại một tập kí-sự, Bắc hành tùng kí, ghi lại những biến-cố xảy ra có quan hệ đến bản-thân và đến một số nhân-vật liên-quan đến hồi mạt-vận nhà Lê. Tuy rằng phần lớn sách chép về khoảng đời sống trong ngục-thất ở Bắc-kinh, nhưng có đoạn, nhất là trong phần đầu, bổ-túc và cải-chính Hoàng Lê nhất-thống chí và quốc-sử.
Cái quý của sách này là trực-tiếp cho ta biết rành-rọt tiết-tháo của một vong-thần, vốn lìa nước để hòng cầu viện, nhưng lại
bị giữ vì Thanh sợ cuộc bang-giao với Quang-trung bị quấy. Mặc dầu mọi cách ép về tinh-thần rồi về vật-chất, Lê Quính
cùng một nhóm nhỏ không chịu cải-trang, không chịu cắt tóc, không chịu nhận chức-tước và cam chịu cảm tù trong mười ba
năm, cho đến khi triều Tây-Sơn hết, mới được tha, được đem quan-tài Chiêu-thống về nước với tóc dài áo rách lúc ra đi.

Đúng ba trăm năm trước

ĐÚNG BA TRĂM NĂM TRƯỚC ĐẨY ĐÃ TẠM DÙNG CUỘC Trịnh Nguyễn vũ-tranh, nó đã từng kéo giằng-giai trong gần năm chục năm. Hai quân-đội Bắc Nam xô-xát nhau lần đầu vào năm 1627. Lần cuối vào khoảng cuối năm 1672, bắt đầu một chiến-dịch lớn-lao trước các lũy Trần-ninh và Đồng-hới. Đầu năm 1673, hai quân đều kiệt-quệ. Quân Trịnh rút về bờ bắc sông Gianh. Tuy không giao-ước, hai triều Trịnh Nguyễn dừng hẳn chiến-tranh trong khoảng một trăm năm. Trong gần 200 năm ấy, dân-tộc Việt phải chịu chia lìa ra người Nam và người Bắc.

Muốn kỷ-niệm biến-cố lịch-sử ấy, tôi sẽ phác qua những giai-đoạn kinh-thị và chiến-tranh giữa hai họ Trịnh Nguyễn từ đầu đến năm ngừng chiến. Rồi nhân muốn giới-thiệu với độc-giả một quyển dã-sử xưa, Nam-triều Công-nghiệp diễn chỉ, tôi sẽ kể những chi-tiết trận cuối cùng ấy, bằng cách dịch nguyên văn rút từ sách kia

Việt Thanh chiến sự – theo Ngụy Nguyên một sử gia Trung Quốc đời Thanh

Cuộc Việt Thanh giao chiến cách nay chưa lâu, nhưng những tài-liệu thư-tịch liên-quan đến không thấy mấy.

Ban đầu, những sử-gia Việt viết chuyện Tây-Sơn chỉ biết những tài-liệu Việt: hoặc chính-sử như Đại-nam Thực-lục, Đại-nam Liệt-truyền, hoặc ngoại-sử như Lê quý kỷ sự, Hoàng Lê nhất thống chí.

Nhưng khi xét sử mọi cuộc chiến-tranh, còn có phần chắc tìm được tài-liệu ở đối-phương. Mà sự ấy rất cần, vì kẻ biên chép ở phe nào thường bệnh-vực phe ấy. Chỉ theo một bên thì hay trở nên tây-vị. Trong cuộc Việt Thanh giao chiến, Quang-Trung đã lập một vũ-công đặc-biệt, mà mọi sử sách ta, tuy là do những kẻ phò kẻ nội-dịch là Nguyễn Ánh viết nên, đều ca ngợi. Nhưng giá như không có tài-liệu do người Thanh hoặc kẻ bằng-quan khẳng-nhận, thì độc-giả ngày nay có lẽ để nghi ngờ. Vì những lẽ ấy, ta nên ra công tìm những sử-liệu đời Thanh liên-quan với cuộc chiến-tranh ấy

Vụ Bắc sứ năm Canh Thìn đời Cảnh Hưng với Lê Quý Đôn và bài trình bằng văn nôm

Ngày 28 tháng giêng năm Cảnh-hưng thứ 21, là năm canh-thìn (1760), đúng giờ Thìn (9 giờ sáng), sứ-bộ vượt sông Nhị, từ bến Hàng Bè thẳng sang làng Ái-mộ, để lên đường đi sứ nước Đại-thanh. Đó là một thịnh-sự đang thời, cách sáu năm mới có một lần, và cũng là cái mộng tột cao của kẻ nho-gia văn-sĩ. Huống chi trong sứ-bộ lần này có vị phó-sứ rất trẻ tuổi mà tài-hoa đang nổi rầy khắp kinh kỳ. Ấy là ông bằng-nhân LÊ QUÍ-ĐÔN bấy giờ mới ba mươi ba tuổi. Tuổi trẻ chừng ấy mà ông được dự phần thay mặt vua Lê đối với Thiên-triều; đó là bởi tài văn-chương, trí mẫn-tiệp của ông. Lại thêm có óc rất khoa-học, ông đã ghi chép tường-tận tất cả mọi sự xảy ra từ khi mở được đoạn trình cho đến khi xong sứ-dịch trở về. Nhờ sách Bắc-sử thông lục (北使通錄) của ông, nay còn lại nữa phải (1), mà ta được biết nhiều chi-tiết của một cuộc đi sứ Trung-quốc ngày xưa, và nhất là ta còn có một bài tường-trình đầy-đủ về sứ-dịch bằng chữ Nôm, nó giúp ta biết rõ Việt-ngữ thường dùng giữa thế-kỷ 18

Quần đảo Hoàng Sa

“Quần-đảo Hoàng-sa là đất của Việt-Nam, hoặc nói cho hợp hơn, là đất của Đại-Việt từ khi dân Việt định-cư ở phủ Tư-nghĩa, tức
là đất Quảng-Ngãi ngày nay.

Bút chứng cũ nhất và đầy-đủ nhất thấy trong sách Phủ biên tập lục, Lê Quí-Đôn soạn vào năm 1776, với những tư-liệu của các chúa Nguyễn. Sau đó, các sứ-gia, địa-gia đời vua Nguyễn đều dựa theo đó và thêm-thất việc mới vào. Về đồ về, các « bản đồ » và « lộ-đồ » đời Lê cũng có ghi một cách sơ-sài cái « bãi cát vàng » hoặc « bãi Trường-sa » ấy.”

Lê Quý Đôn đi sứ nước Thanh

Vì còn ít tuổi, chức tước chưa cao, cho nên ông chỉ được sung phó sứ số một, nhưng kì thật thì trong các cuộc ứng đối, ông đứng hàng đầu. Trong phần nhỏ sách kí sự của ông còn lại, ta cũng thấy người Trung Quốc để ý đến ông hơn chánh sứ nhiều. Lời ông viết nối trong Đề Từ: “Từ trước đến nay, văn thần được tuyển đi sứ là trên dưới 50 tuổi. Mà tôi vâng mệnh đi lần này, tuổi mới hơn 30, bề ngoài còn hăng hái sỗ sàng. Tự vui thích chơi bời bay nhảy, cảm tình với xưa, tò mò với nay. Đến đâu cũng đề vịnh (xướng họa với chánh sứ đến vài trăm bài). Đến những chỗ công sảnh, nhà quan, hễ thấy đối liễn, thơ đề trên quạt, ta đều nhẩm ghi để khi về thuyền sao lại. Ta lại được các bậc cao sĩ phu Trung Châu đem thi từ thân tặng. Cho nên trong lúc này có ghi nhiều văn từ thấy ở các công thự, ở phong cảnh núi sông, những lời hỏi đáp với các quan liêu”.

Truyện Song Tinh

Tình định thì như nam châm hút sắt, giật ra cũng không rời. Tình định thì như dòng nước chảy xuôi, ngăn lại cũng không đúng. Nếu muốn lại sinh ra một điều nghĩ khác, phát ra một mối nhớ riêng, thì sao làm được?

Mày không tựa núi xuân, thì núi xuân ắt bày màu lam, làm hồn ta ngất. Mắt không như nước thu, thì nước thu hẳn dờn sóng đẹp, làm phách ta xiêu. Vẻ dáng không như hoa xinh liễu đẹp, thì hoa liễu ắt khoe màu rạng rỡ để thu hút tâm ta. Lời nói không như yến kêu oanh hót, thì yến oanh ắt dẳng khúc du dương để trêu ghẹo ý ta. Toan lại gây ra một mảnh tình mềm như hoa rụng tơ bay, ấy là lỗi ai? Nhân vậy mới biết rằng tình không khó về sự gắn bó, mà chỉ khó về sự tìmđược người gắn bó mà thôi.

Trong truyện này, SONG TINH và GIANG NHUY CHÂU có những điều đáng cho là lạ, đủ coi là quý. Nhưng đã đáng lạ đủ quý, mà tình lại đính, thì bởi đó mà gìn tâm chỉnh tính, để muốn hợp với đại đạo của thánh hiền cũng chẳng khó. Sách này đặt lời tuy cạn, mà ngụ ý rất sâu. Cho nên ta thay tác giả làm bài tựa.

Chủ nhân TỐ CHÍNH ĐƯỜNG đề ở nhà trữ sách THIÊN HOA

Paris mùa đông năm Ất Sử (1958)

Hoàng Xuân Hãn

Một vài ký vãng về hội nghị Đà Lạt

Sử-Địa cổ nài tôi kể chuyện Hội-nghị Đà-lạt mà tôi có dự. Tôi đã khuyên nên nhờ ai còn giữ được các tài-liệu chính-thức về vụ ấy, vì riêng tôi, thì hồi quân Pháp chiếm lại Hà-nội, những tài-liệu đầy đủ ấy đã bị mất. Tôi cũng đã khuyên nên đăng lại những bài lược trình về các buổi tranh-luận về những vấn-đề chính-trị, tài-chính, vũ-bị, và văn-hóa mà Vũ Văn-Hiền, một bạn khác và tôi đã viết trong tạp-chí Dư luận xuất-bản năm 1946, rồi sau được góp lại xuất-bản thành sách nhỏ. Nay, báo và sách tôi đều không có nữa. Chuyện mới xảy ra cách một phần tư thế-kỉ, mà tài-liệu ở nước nhà không còn. Ở Paris hẳn có, nhưng chưa có phương-tiện tìm-tòi.

May sao, trong những quyển sổ tay của tôi, tôi còn thấy ghi lại một số sự-kiện, riêng, chung về hành-trình đi dự hội-nghị này. Tôi cũng chiều ý Sử-Địa một phần nào, bằng sẽ kể một vài mẫu chuyện và một vài đại-ý về việc này, để độc-giả ngày nay và ngày sau còn cảm-thông với những người đương-sự trong giai-đoạn cực-kì gian-nan cho vận-mệnh nước nhà trong buổi tái-sinh của dân Việt. Ký vãng là chép chuyện xưa liên-hệ đến mình. Vậy tôi xin lỗi sẽ nói nhiều về cá-nhân tôi

Đại Nam quốc sử diễn ca

Bản Đại – Nam Quốc-sử diễn-ca này do ông Hoàng Xuân-Hãn phiên âm theo đúng nguyên-văn chữ nôm bản khắc năm 1870. Vì thế có nhiều chữ khác với các bản quốc-ngữ đã in ra từ trước đến nay.

Trong nguyên-bản, bài ca không chia ra từng đoạn từng mục, và có lời giải bằng Hán-văn. Nhưng lời giải ấy có chỗ thì quá vụn vặt, có chỗ thì quá sơ-lược, có chỗ thì sai hẳn chính-sử.

Nhà xuất bản soạn riêng lời giải để ước-lược, bổ khuyết và định-chính; lại chia bài ca ra từng phần, từng đoạn từng mục để tiện việc tra cứu.

Ông Vũ Đăng-Châu đã giúp nhà xuất-bản trong việc phân đoạn, chú-thích và soạn lời giải.

Các văn cổ về Hà thành thất thủ và Hoàng Diệu

Trong tập sách này, chúng tôi góp những bài văn kể chuyện hoặc vịnh thời cuộc và nhàn vật ở Hà Nội trong hai vụ người Pháp đánh Hà Nội vào năm 1873 và 1882. Bài đầu là HÀ THÀNH THẤT THỦ CA, kể chuyện Hà Nội thất thủ hai lần, và tình cảnh nhân dân ở Bắc sau cuộc thứ hai. Thể văn là song thất lục bát. Bài thứ hai là HÀ THÀNH THẤT THỦ CHÍ CÔNG QUÁ CA, kể chuyện thất thủ năm 1882, đề ca ngợi tiết thảo của quan tổng đốc Hoàng Diệu, và chế diễu các quan khác. Thường gọi bài này là HÀ THÀNH CHÍNH KHÍ CA, hay gọi tắt là CHÍNH KHÍ CA. Thể văn là lục bát.

Đoạn thứ ba là ĐIẾU HOÀNG DIỆU, gồm ba bài tự sự và khen quan tổng đốc, làm bằng lối văn ca khúc, bốn bài thơ chữ Hán và hai đôi câu đối liền của quan tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng và của quan khâm sai tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc. Chúng tôi có dịch các bài thơ và câu đối ấy.

Đoạn thứ tư là HÀ THÀNH THẤT THỦ ÂN gồm chín bài thơ thất ngôn bát cú, luận công tội của các quan tỉnh Hà Nội. Để mục cũng chúng tôi đặt. Cuối cùng sẽ phụ lục những bài dịch Hán văn hay Pháp văn có liên can đến việc Hà Nội năm Nhâm-Ngọ. Những bài này đều là những chứng trực-tiếp cho cuộc xử án các nhân-vật đương thời. Giá trị các tài-liệu ấy về lịch-sử rất quý.