Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996)
Hoàng Xuân Hãn là một trong những học giả lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX, một trí tuệ hiếm có dung hội được cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học nhân văn. Ông vừa là nhà toán học, kỹ sư cầu đường, kỹ sư vật lý hạt nhân được đào tạo tại những đại học hàng đầu nước Pháp, vừa là nhà sử học, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa và giáo dục tầm cỡ quốc gia. Di sản ông để lại trải dài từ việc đặt nền móng thuật ngữ khoa học tiếng Việt, xây dựng chương trình giáo dục quốc ngữ đầu tiên, đến những công trình khảo cứu lịch sử và văn học cổ điển có giá trị lâu bền.
Xuất thân và hành trình học vấn
Hoàng Xuân Hãn sinh ngày 14 tháng 1 năm 1908 tại làng Yên Hồ, huyện La Sơn (nay thuộc xã Đức Quang), tỉnh Hà Tĩnh, vùng đất có truyền thống hiếu học lâu đời. Ông xuất thân trong một gia tộc khoa bảng: ông nội Hoàn Xuân Phong là một vị quan cuối đời Tự Đức, từng làm án sát tỉnh Lạng Sơn. Sau khi triều đình đầu hàng Pháp, ông bị triệu về làm tuần phủ Hà Tĩnh để chiêu dụ lòng dân và đánh quân khởi nghĩa Phan Đình Phùng – sau khi về nhà ông bị bệnh nhưng không uống thuốc, chịu chết để tròn danh tiết. Tổ phụ của ông Lệ trạch hầu Hoàng Trừng (1499) là cháu ngoại của đức thánh Nghĩa vương Nguyễn Biểu (1413) một vị anh hùng thời hậu Trần rất được tôn kính ở giải đất miền Trung.
Ông học lớp nhất tiểu học tại trường Thanh Hoa cùng lớp với bác sỹ Phạm Ngọc Thạch. Trong bốn năm từ 1922 đến 1926, ông học tiểu-trung học tại trường Quốc học Vinh, cùng đợt với nhiều nhân vật sau trở thành danh sĩ một thời như Phạm Thiều, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Nguyễn Xiên. Lên bậc trung học, ông vào trường Bưởi tại Hà Nội, song chủ yếu tự học cùng nhóm bạn để chuẩn bị thi Tú tài Tây theo hình thức tự do. Năm 1927, cả nhóm đều đỗ và được ghi nhận là những người đầu tiên xứ Trung Kỳ đỗ khoa cử theo thể thức mới. Năm 1928, ông đỗ Tú tài chuyên Toán tại Lycée Albert Sarraut và được nhận học bổng của Chính phủ Đông Dương sang Pháp, theo học tại Lí xê Saint Louis ở Paris để chuẩn bị thi vào các Trường Lớn.
Năm 1930, ông thi đỗ vào cả hai trường danh giá bậc nhất: École normale supérieure và École Polytechnique. Ông chọn Polytechnique, tốt nghiệp năm 1932, rồi tiếp tục theo học tại École nationale des ponts et chaussées (Trường Cầu đường Paris) và hoàn thành khóa học năm 1934. Mùa hè năm đó, ông về nước thăm gia đình và dò ý các bạn đồng trường người Pháp đang cầm đầu các sở hỏa xa, công chánh tại Đông Dương. Nhận thấy rằng, vì không có Pháp tịch, ông sẽ không được làm việc xứng đáng trong ngành kỹ thuật tại thuộc địa, ông quyết định trở lại Paris để chuyển hướng. Ông thi lấy bằng Cử nhân Toán tại Đại học Sorbonne năm 1935, rồi Thạc sĩ Toán năm 1936.
Cũng trong những năm du học tại Pháp, ông bắt tay soạn thảo cuốn Danh từ Khoa học, công trình sẽ trở thành nền tảng của ngôn ngữ khoa học Việt Nam hiện đại. Năm 1936, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Bính, người sau này trở thành dược sĩ.
Đóng góp cho giáo dục và ngôn ngữ
Trở về nước năm 1936, Hoàng Xuân Hãn giảng dạy môn Toán tại trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An, Hà Nội) cho đến khi Nhật đảo chính Pháp năm 1945. Trong giai đoạn này, ông xuất bản tập giáo trình Éléments de trigonométrie (1936) được xem là tài liệu toán học phương Tây đầu tiên được viết bởi người Việt. Năm 1942, ông hoàn thành và xuất bản Danh từ Khoa học, bộ từ vựng khoa học với hơn 6.000 từ mục thuộc các lĩnh vực toán, lý, hóa, cơ học và thiên văn. Phần lớn các thuật ngữ trong đó lần đầu tiên xuất hiện hoặc lần đầu được chuẩn hóa và giải thích cụ thể trong tiếng Việt. Đây là công trình đặt nền móng để người Việt có thể viết và tư duy khoa học bằng chính ngôn ngữ của mình.
Tháng 4 năm 1945, vua Bảo Đại mời ông vào Huế tham vấn về việc thành lập chính phủ độc lập đầu tiên. Ngày 17 tháng 4 năm 1945, ông nhận chức Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật trong nội các Trần Trọng Kim. Chỉ trong vòng bốn tháng tại nhiệm, ông đã thiết lập và ban hành chương trình trung học bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, áp dụng việc học và thi Tú tài bằng tiếng Việt, đồng thời đưa tiếng Việt vào các công văn chính thức, những cải cách mang tính lịch sử, khẳng định vị thế của tiếng Việt như ngôn ngữ hành chính và học thuật của một quốc gia độc lập. Năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Đà Lạt.
Sự nghiệp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Song song với hoạt động khoa học và giáo dục, Hoàng Xuân Hãn sớm bộc lộ chiều sâu của một nhà nghiên cứu lịch sử và văn học. Trong những năm trường Bưởi sơ tán vào Thanh Hóa vì chiến tranh (1939–1944), ông tìm thấy nhiều tư liệu quý về La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, vua Quang Trung và những văn bia về sự nghiệp của Lý Thường Kiệt. Năm 1945, ông bắt đầu nghiên cứu Truyện Kiều, hành trình kéo dài hơn nửa thế kỷ.
Các công trình sử học và văn học ra đời nối tiếp nhau: Đại Nam Quốc sử Diễn ca (1949), Lý Thường Kiệt (1949–1950), Thi văn Việt Nam (1950), La Sơn Phu Tử (1952), Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo (1953). Những công trình này không đơn thuần là biên khảo, chúng phản ánh một ý thức rõ ràng: trong bối cảnh đất nước biến động, việc gìn giữ và phổ biến di sản sử học và văn học là một hành động thiết thực bảo vệ bản sắc dân tộc.
Những năm tháng ở Paris
Mùa xuân năm 1951, được mật báo rằng chính quyền mới sắp bắt giữ ông, Hoàng Xuân Hãn nhận thông hành từ Tổng trấn Bắc Kỳ Nguyễn Hữu Trí và xuất cảnh sang châu Âu. Ông định cư tại Paris và ở lại đó cho đến cuối đời.
Tại đây, ông toại nguyện thực hiện điều ông hằng mong: tìm kiếm và khảo cứu các văn bản Việt ngữ cổ còn lưu tản ở châu Âu. Trong giai đoạn 1951–1954, ông giúp Thư viện Quốc gia Pháp biên soạn thư mục cho một mớ bản thảo tích trữ hơn trăm năm, qua đó phát hiện khoảng hai mươi bản chữ Nôm có niên đại đầu thế kỷ XVII phần lớn là tác phẩm của giáo sĩ Dòng Tên người Ý Girolamo Maiorica, bạn đường của Alexandre de Rhodes, soạn trong các năm 1634–1642. Tại thư viện Vatican, ông tiếp tục khám phá di cảo của Philippe Bỉnh một học giả Việt theo đạo Công giáo quê vùng Thái Bình, bị lưu giữ tại Bồ Đào Nha đầu thế kỷ XIX với nhiều tập sách chép tay bằng chữ Quốc ngữ ghi lại sinh hoạt, phong tục và sự kiện thời đó. Đây là những phát hiện có giá trị lớn cho lịch sử chữ Nôm và chữ Quốc ngữ Việt Nam.
Từ năm 1956, ông mở rộng sang một lĩnh vực hoàn toàn mới: theo học và hành nghề kỹ sư năng lượng nguyên tử, tham gia tính toán phương trình phân rã nguyên tử cho lò phản ứng hạt nhân của Pháp. Ông không ngừng tiếp tục công việc học thuật, đóng góp bài vở thường xuyên cho Tập san Sử Địa (Sài Gòn, 1966–1975), Tạp chí Khoa học – Xã hội (Paris, 1976–1987) và Diễn đàn (Paris, 1991–1994); đồng thời nghiên cứu và hiệu đính nhiều văn bản cổ chữ Nôm chưa được phổ biến.
Năm 1992, ông thành lập Hội Văn hóa Giáo dục Cam Tuyền tại Pháp, với tôn chỉ bảo tồn và phát huy văn hóa cổ Việt Nam trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Công trình Nghiên cứu về Kiều khởi thảo từ năm 1945 cũng được hoàn tất trong những năm tháng cuối đời tại Paris.
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn từ trần lúc 7 giờ 45 ngày 10 tháng 3 năm 1996 tại bệnh viện Orsay, Paris, hưởng thọ 88 tuổi. Ông được hỏa táng tại nghĩa trang L’Orme des Moineaux, Les Ulis, Pháp. Một phần tro cốt của ông được đưa về an táng tại Đức Thọ, Hà Tĩnh.
Ghi nhận và di sản
Năm 2000, Nhà nước Việt Nam truy tặng Giáo sư Hoàng Xuân Hãn Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Xã hội và Nhân văn với cụm công trình Lý Thường Kiệt, La Sơn Phu Tử và Lịch và Lịch Việt Nam. Tháng 8 năm 2011, Trường Cầu đường Paris đặt tên ông cho một giảng đường, và trước đó đã vinh danh ông là một trong 100 cựu sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của Trường.
Hoàng Xuân Hãn là hiện thân của một mẫu học giả trọn vẹn: uyên bác mà không xa đời, tận tụy với tri thức nhưng không tách rời trách nhiệm xã hội. Suốt gần chín mươi năm, ông đã sống trọn vẹn cả vai trò của một nhà khoa học, một nhà giáo, một người làm chính sách và một người gìn giữ văn hóa, tất cả đều xuất phát từ một tình yêu sâu sắc và kiên định với tiếng Việt và văn hóa Việt Nam.
Danh mục tác phẩm
Sách
- Éléments de trigonométrie (Cơ bản của lượng giác học) Hanoi: Les Editions nouvelles, 1936
- Danh từ Khoa học (Vocabulaire scientifique) Hanoi: Imprimerie de Trung-Bắc, 1942
- La Sơn Phu Tử. Nhà xuất bản Minh Tân, 1945; tái bản 1951, 1952
- Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao Triều Lý. Nhà xuất bản Sông Nhị, 1949
- Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tôn giáo Triều Lý. Nhà xuất bản Sông Nhị, 1950; tái bản 1966, 1996, 2010
- Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo. Nhà xuất bản Minh Tân, 1953
- Bích Câu Kỳ Ngộ (hiệu đính và chú giải). Nhà xuất bản Đại Học, 1964
- Thi văn Việt Nam. Nhà Xuất bản Sông Nhị, 1951
- Thiên tình sử Hồ Xuân Hương. Nhà xuất bản Văn học, 2002
- Nghiên cứu về Kiều (Công trình hoàn tất tại Paris, khởi thảo từ năm 1945)
- Truyện Song Tinh. Nhà Xuất bản Văn học 1987. In lại trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn – Trước tác, Nhà Xuất bản Giáo dục 1998
Các công trình biên tập và chú thích
- Đại Nam Quốc sử Diễn Ca (của Lê Ngô Cát) Tựa và dẫn – Nhà xuất bản Sông Nhị, 1949
- Hà Thành Thất Thủ và Hoàng Diệu (dẫn và chú thích) Nhà xuất bản Sông Nhị, 1950
- Mai Đình Mộng Ký (của Nguyễn Huy Hổ)
- Văn tế Thập loại Chúng sinh (của Nguyễn Du)
- Lịch và Lịch Việt Nam. Tập san Khoa học Xã hội, số 9, 1982, tr. 1–144
Bài đăng trên Tập san Sử Địa (Sài Gòn, 1966–1975)
- Những lời thề của Lê Lợi (phần 1). Số 1, 1966
- Những lời thề của Lê Lợi (phần 2). Số 2, 1966
- Gốc tích của Chúa Trịnh và một bức thư Nôm của Trịnh Kiểm. Số 4, 1966
- Vụ Bắc sứ năm Canh Thìn đời Cảnh Hưng với Lê Quý Đôn và bài trình bằng văn Nôm. Số 6, 1967
- Việt–Thanh chiến sử theo Ngụy Nguyễn, một sử gia Trung Quốc đời Thanh. Số 9–10, 1968
- Vụ Bắc sứ năm Canh Thìn đời Cảnh Hưng với Lê Quý Đôn và bài trình bằng chữ Nôm. Số 11, 1968
- Bắc Hành Tùng Ký (phần 1). Số 13, 1969
- Bắc Hành Tùng Ký (phần 2). Số 14–15, 1969
- Bắc Hành Tùng Ký (phần 3). Số 16, 1969
- Đồ biểu đối chiếu lịch xưa và lịch mới. Số 17–18, 1970
- Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm (phần 1). Số 21, 1971
- Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm (phần 2). Số 22, 1971
- Một vài kí vãng về Hội nghị Đà Lạt. Số 23–24, 1971
- Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm (phần 3). Số 25, 1973
- Đúng ba trăm năm trước (phần 1). Số 26, 1974
- Đúng ba trăm năm trước (phần 2). Số 27–28, 1974
- Trả lời “vấn đề Hoàng Sa”. Số 29, 1975
Bài trên tập san Khoa học Xã Hội (Paris, 1976–1987)
- Thực trạng xã hội thời Gia Long qua một vài tư liệu sử học và văn học, Tập san Khoa học Xã hội (Paris), số 1, 1976, tr. 5–20
- Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683, Tập san Khoa học Xã hội, số 3, 1977, tr. 5–39 và 100; tiếp tục ở số 4, 1977, tr. 111–151 .
- Văn nôm và chữ nôm đời Trần–Lê. Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, Tập san Khoa học Xã hội, số 5 (1978), tr. 1–62; số 6 (1979), tr. 5–38 và 65; số 7 (1980), tr. 78–112 và 113–125 .
- Lời thề Lũng Nhai, Tập san Khoa học Xã hội, số 7 (số đặc biệt về Nguyễn Trãi), 1980, tr. 2–13 .
- Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, số 9, 1982, tr. 1–144 .
- Chuyện Ỷ Lan (văn nôm lục bát của Trương Thị Ngọc Trong soạn năm 1759), Tập san Khoa học Xã hội, số 12, 1984, tr. 48–84
- Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, Tập san Khoa học Xã hội, số 10 & 11, 1984, tr. 92–149 .
- Kim Vân Kiều án và Nguyễn Văn Thắng, Tập san Khoa học Xã hội, số 13 & 14, 1987, tr. 145–172 .