Thiên tình sử Hồ Xuân Hương

… tôi nhờ may mắn, tình cờ đã được biết rằng nữ sĩ nổi danh nhất ở nước ta, HỒ XUÂN HƯƠNG, dã có lúc ở trên bờ vịnh HẠ LONG, nhiều lần dong thuyền trên vịnh, và còn đề lại đến nay một số thơ Hán văn Đường luật kỷ niệm cảm tưởng của mình trong những cuộc nhà tư vấn trong những cuộc nhàn du ấy.

Truyện Song Tinh

Tình định thì như nam châm hút sắt, giật ra cũng không rời. Tình định thì như dòng nước chảy xuôi, ngăn lại cũng không đúng. Nếu muốn lại sinh ra một điều nghĩ khác, phát ra một mối nhớ riêng, thì sao làm được?

Mày không tựa núi xuân, thì núi xuân ắt bày màu lam, làm hồn ta ngất. Mắt không như nước thu, thì nước thu hẳn dờn sóng đẹp, làm phách ta xiêu. Vẻ dáng không như hoa xinh liễu đẹp, thì hoa liễu ắt khoe màu rạng rỡ để thu hút tâm ta. Lời nói không như yến kêu oanh hót, thì yến oanh ắt dẳng khúc du dương để trêu ghẹo ý ta. Toan lại gây ra một mảnh tình mềm như hoa rụng tơ bay, ấy là lỗi ai? Nhân vậy mới biết rằng tình không khó về sự gắn bó, mà chỉ khó về sự tìmđược người gắn bó mà thôi.

Trong truyện này, SONG TINH và GIANG NHUY CHÂU có những điều đáng cho là lạ, đủ coi là quý. Nhưng đã đáng lạ đủ quý, mà tình lại đính, thì bởi đó mà gìn tâm chỉnh tính, để muốn hợp với đại đạo của thánh hiền cũng chẳng khó. Sách này đặt lời tuy cạn, mà ngụ ý rất sâu. Cho nên ta thay tác giả làm bài tựa.

Chủ nhân TỐ CHÍNH ĐƯỜNG đề ở nhà trữ sách THIÊN HOA

Paris mùa đông năm Ất Sử (1958)

Hoàng Xuân Hãn

Đại Nam quốc sử diễn ca

Bản Đại – Nam Quốc-sử diễn-ca này do ông Hoàng Xuân-Hãn phiên âm theo đúng nguyên-văn chữ nôm bản khắc năm 1870. Vì thế có nhiều chữ khác với các bản quốc-ngữ đã in ra từ trước đến nay.

Trong nguyên-bản, bài ca không chia ra từng đoạn từng mục, và có lời giải bằng Hán-văn. Nhưng lời giải ấy có chỗ thì quá vụn vặt, có chỗ thì quá sơ-lược, có chỗ thì sai hẳn chính-sử.

Nhà xuất bản soạn riêng lời giải để ước-lược, bổ khuyết và định-chính; lại chia bài ca ra từng phần, từng đoạn từng mục để tiện việc tra cứu.

Ông Vũ Đăng-Châu đã giúp nhà xuất-bản trong việc phân đoạn, chú-thích và soạn lời giải.

Các văn cổ về Hà thành thất thủ và Hoàng Diệu

Trong tập sách này, chúng tôi góp những bài văn kể chuyện hoặc vịnh thời cuộc và nhàn vật ở Hà Nội trong hai vụ người Pháp đánh Hà Nội vào năm 1873 và 1882. Bài đầu là HÀ THÀNH THẤT THỦ CA, kể chuyện Hà Nội thất thủ hai lần, và tình cảnh nhân dân ở Bắc sau cuộc thứ hai. Thể văn là song thất lục bát. Bài thứ hai là HÀ THÀNH THẤT THỦ CHÍ CÔNG QUÁ CA, kể chuyện thất thủ năm 1882, đề ca ngợi tiết thảo của quan tổng đốc Hoàng Diệu, và chế diễu các quan khác. Thường gọi bài này là HÀ THÀNH CHÍNH KHÍ CA, hay gọi tắt là CHÍNH KHÍ CA. Thể văn là lục bát.

Đoạn thứ ba là ĐIẾU HOÀNG DIỆU, gồm ba bài tự sự và khen quan tổng đốc, làm bằng lối văn ca khúc, bốn bài thơ chữ Hán và hai đôi câu đối liền của quan tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng và của quan khâm sai tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc. Chúng tôi có dịch các bài thơ và câu đối ấy.

Đoạn thứ tư là HÀ THÀNH THẤT THỦ ÂN gồm chín bài thơ thất ngôn bát cú, luận công tội của các quan tỉnh Hà Nội. Để mục cũng chúng tôi đặt. Cuối cùng sẽ phụ lục những bài dịch Hán văn hay Pháp văn có liên can đến việc Hà Nội năm Nhâm-Ngọ. Những bài này đều là những chứng trực-tiếp cho cuộc xử án các nhân-vật đương thời. Giá trị các tài-liệu ấy về lịch-sử rất quý.

Lịch và lịch Việt Nam

Sau đây, tôi sẽ trình bày những nguyên-lí của phép ÂM-DƯƠNG Lịch, và tuy tạm diễm, tôi sẽ so-sánh với các phép lịch khác. Cuối cùng, tôi sẽ xét những phép lịch dùng ở nước ta. Điểm đặc biệt là nước ta dùng lịch khác lịch nhà THANH ở Trung-quốc từ năm 1644 đến năm 1612. Để giúp các nhà nghiên cứu Việt-sử, tôi sẽ trình bày vắn-lược những thành tựu của những công trình tính lại lịch ĐẠI-VIỆT trong khoảng thời-gian ấy.

Chinh phụ ngâm diễn ca

Ai đã diễn-ca bản Chinh-phụ-ngâm? Ông Hoàng Xuân-Hãn đã áp-dụng phương-pháp khoa-học và nghiên-cứu tinh-xác để tham-khảo áng văn tuyệt-tác ấy. Ngoài bản dịch mà ta thường biết, ông đã tìm ra nhiều bản dịch khác nhau nữa. Đọc những bản dịch sau nầy, đọc những lời chú-thích cặn-kẽ, rõ-ràng, đọc bản chữ nho của Đặng Trần-Côn và bản dịch ra văn xuôi của ông Hoàng Xuân-Hãn, ta có thể hiểu thấu cái hay của văn chương “Chinh-phụ”, và đồng-thời đính-chính ít nhiều sai-lầm mà xưa nay không ai để ý đến. CHINH-PHỤ-NGÂM BỊ-KHẢO của ông Hoàng Xuân-Hãn là một tài-liệu quí giá mà một học-sinh, một nhà giáo, một nhà văn, một người Việt-Nam yêu văn-chương Việt-Nam không thể bỏ qua được.

Mai Đình Mộng Ký

“Bên cạnh Hoa-tiên và Đoạn-trường tân-thanh còn có Mai-đình mộng-ký, văn y như văn Hoa-tiên và văn Kiều. Vậy thì ta thấy sự liên lạc giữa ba tập văn này:

« Nguyễn Huy-Hổ, tác-giả Mai-đình mộng-ký chắc đã thuộc lòng Hoa-tiên và Đoạn-trường tân-thanh trước lúc làm bài ký ấy (1), cũng như Nguyễn Du đã thuộc lòng Hoa-tiên khi làm tập Đoạn-trường tân-thanh »

Vả lại Nguyễn-Du, lúc thiếu-thời, rất hay giao-du với văn-sĩ Trường-lưu: ảnh-hưởng của sự giao-du ấy rất lớn. Nay ta đọc Mai-đình mộng-ký ta thấy từ cách dùng chữ đến cách đặt câu đều giống như trong Hoa-tiên và Kiều, ta phải coi ba áng văn ấy là của một phái, một nhà, truyền từ người nọ đến người kia, của « Hồng-sơn văn-phái ».

Ai cũng biết Kiều, nhiều người biết Hoa-tiên. Đến như Mai-đình mộng-ký thì không mấy ai được đọc, trừ một số ít người ở La-sơn và Can-lộc. Một áng văn hay như vậy mà bị mai-một trong gần trăm rưỡi năm, kể cũng hơi lạ! Chúng ta há không nên sửa lại sự bất-công ấy hay sao

Danh từ khoa học

Tập Danh-tử khoa-học này mục-đích là đề cho người giảng với người nghe có một ngôn-ngữ tương-đồng trong khi bàn-bạc về khoa-học.

Cách tôi chọn chữ thể nào, trong lời dẫn sau này tôi sẽ giải kỹ-càng. Nhưng tóm tắt thì đại-ủy có hai: Một là tôi dựa theo sự tiến-hóa thiên-nhiên của Việt-ngữ mà đặt chữ, hai là luôn luôn tôi đứng vào phương-diện thực-tế, và đặt một chữ nào tôi cũng thí-nghiệm sự dùng nó có lợi hay không.

Chắc thể nào, độc-giả cũng có người dĩ-nghị và bắt bẻ.

Đó sẽ là một điều may cho tôi, vì tôi xưa nay chỉ độc một lòng học hay chữa dở. Tôi vẫn ghi tâm chuyện xưa ngươi Địch-thông cho sự “ Sinh nhi bất vân quá ” (trong đời mà không nghe ai chỉ điều lối cho mình) là một sự không may.

La Sơn Phu Tử

Nhưng mục-đích viết sách này, không những muốn nêu cao một gương trước, muốn khảo-cứu một vấn-đề lịch-sử, mà còn để tìm một mối lợi có thể giúp con cháu phu-tử xây lại từ-đường và bia kỷ-niệm. Cho nên càng để chậm ra, thì sự giúp-đỡ ấy càng chậm thêm.

Vả bây giờ¹, nước ta đương qua một thời-kỳ biến, nền độc-lập mới xây. Từ hồi Pháp-thuộc, đến lúc thoát-ly, có nên xuất, xử thế nào, cũng có lắm người nghị-luận. Họa chăng gương phu-tử sẽ đủ cho người soi.

Còn về giá-trị sử-học, tôi không tham vọng. Nhưng, trong khi nền sử-học ta mới phôi-thai, tôi đã gắng để tránh cái họa lẫn sử-ký với tiểu-thuyết, và để tránh cái tật bạ đâu lấy đó.

Trong lúc viết sách này, nếu không có thân-phụ tôi và nhiều cụ túc-nho giúp sức, thì sự khảo-cứu của tôi cũng không công-hiệu.

Vậy quyển sách này là của một kẻ hậu-sinh ở vào thế-hệ mới tặng tất cả thế-hệ trước, mà LA-SƠN PHU-TỬ xứng-đáng đứng nhân danh.