Lịch và lịch Việt Nam, Hoàng Xuân Hãn, Tập san khoa học xã hội, số 9, tháng 2,1982, xuất bản tại Paris
Trích trang 1
“Những phép lịch xưa ta còn biết, và các phép lịch nay dùng để phát gốc như vậy. Nhưng, như sau, sẽ giải, vì khó lòng ghép ngay tháng cho hợp ghi với vận chuyển của cả hai vùng, cho nên một số lịch pháp đã chỉ chú trọng vào NĂM, theo dõi và vận chuyển của mặt trời mà thôi, mặc dầu vẫn giữ THÁNG, những manh mối với mặt trăng đã đoạn tuyệt. Thí dụ: là CÔNG-LỊCH ngày nay thế giới đều dùng, tuy qua trình nó đã trải qua nhiều điểm vô lí. Người ta gọi nó là DƯƠNG-LỊCH (lịch theo mặt trời). Ngược lại, có thứ lịch, như lịch A-rập, chỉ chủ yếu vào THÁNG cho ăn nhịp với tuần trăng tròn khuyết; mặc dầu cũng có nhóm 12 tháng làm năm, nhưng quan niệm thời-tiết định với NĂM thì hoàn-toàn bỏ rơi, vì ngay đầu năm di chuyển từ mùa xuân qua mùa đông đến thu, hạ. Lịch ấy được liệt vào hạng ÂM-LỊCH (lịch theo mặt trăng). Hạng lịch thứ ba, gọi là ÂM-DƯƠNG-LỊCH, tìm cách vừa gắn tháng với tuần trăng vừa gắn năm với thời tiết; nghĩa là chú trọng đến cả hai vùng. Thuộc hạng này có hầu hết các lịch xưa của các cổ-văn-minh thế-giới, nhất là của Hán-tộc qua các triều-đại trong bốn nghìn năm.
Sau đây, tôi sẽ trình bày những nguyên-lí của phép ÂM-DƯƠNG Lịch, và tuy tạm diễm, tôi sẽ so-sánh với các phép lịch khác. Cuối cùng, tôi sẽ xét những phép lịch dùng ở nước ta. Điểm đặc biệt là nước ta dùng lịch khác lịch nhà THANH ở Trung-quốc từ năm 1644 đến năm 1612. Để giúp các nhà nghiên cứu Việt-sử, tôi sẽ trình bày vắn-lược những thành tựu của những công trình tính lại lịch ĐẠI-VIỆT trong khoảng thời-gian ấy.”