Vì còn ít tuổi, chức tước chưa cao, cho nên ông chỉ được sung phó sứ số một, nhưng kì thật thì trong các cuộc ứng đối, ông đứng hàng đầu. Trong phần nhỏ sách kí sự của ông còn lại, ta cũng thấy người Trung Quốc để ý đến ông hơn chánh sứ nhiều. Lời ông viết nối trong Đề Từ: “Từ trước đến nay, văn thần được tuyển đi sứ là trên dưới 50 tuổi. Mà tôi vâng mệnh đi lần này, tuổi mới hơn 30, bề ngoài còn hăng hái sỗ sàng. Tự vui thích chơi bời bay nhảy, cảm tình với xưa, tò mò với nay. Đến đâu cũng đề vịnh (xướng họa với chánh sứ đến vài trăm bài). Đến những chỗ công sảnh, nhà quan, hễ thấy đối liễn, thơ đề trên quạt, ta đều nhẩm ghi để khi về thuyền sao lại. Ta lại được các bậc cao sĩ phu Trung Châu đem thi từ thân tặng. Cho nên trong lúc này có ghi nhiều văn từ thấy ở các công thự, ở phong cảnh núi sông, những lời hỏi đáp với các quan liêu”.
Truyện Song Tinh
Tình định thì như nam châm hút sắt, giật ra cũng không rời. Tình định thì như dòng nước chảy xuôi, ngăn lại cũng không đúng. Nếu muốn lại sinh ra một điều nghĩ khác, phát ra một mối nhớ riêng, thì sao làm được?
Mày không tựa núi xuân, thì núi xuân ắt bày màu lam, làm hồn ta ngất. Mắt không như nước thu, thì nước thu hẳn dờn sóng đẹp, làm phách ta xiêu. Vẻ dáng không như hoa xinh liễu đẹp, thì hoa liễu ắt khoe màu rạng rỡ để thu hút tâm ta. Lời nói không như yến kêu oanh hót, thì yến oanh ắt dẳng khúc du dương để trêu ghẹo ý ta. Toan lại gây ra một mảnh tình mềm như hoa rụng tơ bay, ấy là lỗi ai? Nhân vậy mới biết rằng tình không khó về sự gắn bó, mà chỉ khó về sự tìmđược người gắn bó mà thôi.
Trong truyện này, SONG TINH và GIANG NHUY CHÂU có những điều đáng cho là lạ, đủ coi là quý. Nhưng đã đáng lạ đủ quý, mà tình lại đính, thì bởi đó mà gìn tâm chỉnh tính, để muốn hợp với đại đạo của thánh hiền cũng chẳng khó. Sách này đặt lời tuy cạn, mà ngụ ý rất sâu. Cho nên ta thay tác giả làm bài tựa.
Chủ nhân TỐ CHÍNH ĐƯỜNG đề ở nhà trữ sách THIÊN HOA
Paris mùa đông năm Ất Sử (1958)
Hoàng Xuân Hãn
Một vài ký vãng về hội nghị Đà Lạt
Sử-Địa cổ nài tôi kể chuyện Hội-nghị Đà-lạt mà tôi có dự. Tôi đã khuyên nên nhờ ai còn giữ được các tài-liệu chính-thức về vụ ấy, vì riêng tôi, thì hồi quân Pháp chiếm lại Hà-nội, những tài-liệu đầy đủ ấy đã bị mất. Tôi cũng đã khuyên nên đăng lại những bài lược trình về các buổi tranh-luận về những vấn-đề chính-trị, tài-chính, vũ-bị, và văn-hóa mà Vũ Văn-Hiền, một bạn khác và tôi đã viết trong tạp-chí Dư luận xuất-bản năm 1946, rồi sau được góp lại xuất-bản thành sách nhỏ. Nay, báo và sách tôi đều không có nữa. Chuyện mới xảy ra cách một phần tư thế-kỉ, mà tài-liệu ở nước nhà không còn. Ở Paris hẳn có, nhưng chưa có phương-tiện tìm-tòi.
May sao, trong những quyển sổ tay của tôi, tôi còn thấy ghi lại một số sự-kiện, riêng, chung về hành-trình đi dự hội-nghị này. Tôi cũng chiều ý Sử-Địa một phần nào, bằng sẽ kể một vài mẫu chuyện và một vài đại-ý về việc này, để độc-giả ngày nay và ngày sau còn cảm-thông với những người đương-sự trong giai-đoạn cực-kì gian-nan cho vận-mệnh nước nhà trong buổi tái-sinh của dân Việt. Ký vãng là chép chuyện xưa liên-hệ đến mình. Vậy tôi xin lỗi sẽ nói nhiều về cá-nhân tôi
Đại Nam quốc sử diễn ca
Bản Đại – Nam Quốc-sử diễn-ca này do ông Hoàng Xuân-Hãn phiên âm theo đúng nguyên-văn chữ nôm bản khắc năm 1870. Vì thế có nhiều chữ khác với các bản quốc-ngữ đã in ra từ trước đến nay.
Trong nguyên-bản, bài ca không chia ra từng đoạn từng mục, và có lời giải bằng Hán-văn. Nhưng lời giải ấy có chỗ thì quá vụn vặt, có chỗ thì quá sơ-lược, có chỗ thì sai hẳn chính-sử.
Nhà xuất bản soạn riêng lời giải để ước-lược, bổ khuyết và định-chính; lại chia bài ca ra từng phần, từng đoạn từng mục để tiện việc tra cứu.
Ông Vũ Đăng-Châu đã giúp nhà xuất-bản trong việc phân đoạn, chú-thích và soạn lời giải.
Các văn cổ về Hà thành thất thủ và Hoàng Diệu
Trong tập sách này, chúng tôi góp những bài văn kể chuyện hoặc vịnh thời cuộc và nhàn vật ở Hà Nội trong hai vụ người Pháp đánh Hà Nội vào năm 1873 và 1882. Bài đầu là HÀ THÀNH THẤT THỦ CA, kể chuyện Hà Nội thất thủ hai lần, và tình cảnh nhân dân ở Bắc sau cuộc thứ hai. Thể văn là song thất lục bát. Bài thứ hai là HÀ THÀNH THẤT THỦ CHÍ CÔNG QUÁ CA, kể chuyện thất thủ năm 1882, đề ca ngợi tiết thảo của quan tổng đốc Hoàng Diệu, và chế diễu các quan khác. Thường gọi bài này là HÀ THÀNH CHÍNH KHÍ CA, hay gọi tắt là CHÍNH KHÍ CA. Thể văn là lục bát.
Đoạn thứ ba là ĐIẾU HOÀNG DIỆU, gồm ba bài tự sự và khen quan tổng đốc, làm bằng lối văn ca khúc, bốn bài thơ chữ Hán và hai đôi câu đối liền của quan tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng và của quan khâm sai tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc. Chúng tôi có dịch các bài thơ và câu đối ấy.
Đoạn thứ tư là HÀ THÀNH THẤT THỦ ÂN gồm chín bài thơ thất ngôn bát cú, luận công tội của các quan tỉnh Hà Nội. Để mục cũng chúng tôi đặt. Cuối cùng sẽ phụ lục những bài dịch Hán văn hay Pháp văn có liên can đến việc Hà Nội năm Nhâm-Ngọ. Những bài này đều là những chứng trực-tiếp cho cuộc xử án các nhân-vật đương thời. Giá trị các tài-liệu ấy về lịch-sử rất quý.
Thư gửi ông Nguyễn Đức Hiền (1/12/1994)
Chúng ta là những kẻ “một hội một thuyền” ân ưu vận nước trong sáu bảy mươi năm nay. Không cần đàm đạo lâu dài cũng thấu lòng cảm nghĩ. Các Bác đã đứng mũi chịu sào, “biết mấy phen gian khổ mới có ngày nay”, thành quả nước nhà độc lập và thống nhất là điểm trọng. Còn tôi cảnh ngộ tuy khác,nhưng đã có gắng giữ tấm trung kiên để dự bị phòng khi giúp ích, và nhất là trù tính tương lai dân tộc vững chắc giữa thế giới hoà bình
Lịch và lịch Việt Nam
Sau đây, tôi sẽ trình bày những nguyên-lí của phép ÂM-DƯƠNG Lịch, và tuy tạm diễm, tôi sẽ so-sánh với các phép lịch khác. Cuối cùng, tôi sẽ xét những phép lịch dùng ở nước ta. Điểm đặc biệt là nước ta dùng lịch khác lịch nhà THANH ở Trung-quốc từ năm 1644 đến năm 1612. Để giúp các nhà nghiên cứu Việt-sử, tôi sẽ trình bày vắn-lược những thành tựu của những công trình tính lại lịch ĐẠI-VIỆT trong khoảng thời-gian ấy.
Gốc tích các chúa Trịnh và một bức thư nôm của Trịnh Kiểm
Đọc thư, ta thấy rằng Trịnh Kiểm, cũng như mọi người trong thời xưa, rất tin thuật phong-thủy, tin sự đặt mồ mã tổ tiên rất có ảnh-hưởng đến sự nghiệp của con cháu. Đọc các chuyện xưa, như trong sách Công-dư tiếp-kỷ thì đủ thấy. Theo khoa-học ngày nay thì đó chỉ là dị-đoan. Nhưng đứng về phương-diện tâm-lí thì chính đức tin vào phong-thủy khiến nên thuật ấy rất có ảnh-hưởng về sự hành-động, vậy về sự-nghiệp, của con người xưa. Những điểm lạ, những hiện-tượng bất thường kể trong gia-phả chưa hẳn là đã được bịa ra. Đó có thể chỉ là những hiện-tượng thiên-nhiên, có duyên-do lý-học; nhưng với tâm-thần tin điềm thụy thì con mắt thấy ra một cách dị-thường.
Trịnh Kiểm mồ côi từ khi sáu tuổi, chắc bị thất học hoàn-toàn. Đọc tờ truyền nầy ta không hề thấy vết nho-học chút nào. Còn như trong Thế-phả chép câu trả lời của Trịnh Kiểm « ngã ông tức nhược ông » (lời Lưu Bang Hán Cao-tổ, chép trong Sử-kí), thì đó chẳng qua là con cháu đời sau dẫn lời sách để dịch một ý thường của y mà thôi.
Trái lại, lời thư Trịnh Kiểm rất hồn nhiên, như lời nói chuyện thường, nghĩa là không văn-hoa, không dàn-xếp. Ý lặp, ý dứt rồi lại nói, ý ngắm rồi bỏ lững. Lại hay dùng hư-từ, giới-từ làm câu nói có hình thức liên-tục mà lời thành dây-dưa. Bởi những điểm ấy, ta có đây một phần-ảnh của ngôn-từ thường-dân đời xưa khá chắc-chắn.
Những lời thề của Lê Lợi
Năm 1943, theo học-sinh trường Bưởi tản cư vào Thanh-hoá, tôi thường có dịp viếng đền Vua Lê ở thôn Kiều-đại cạnh phía nam tỉnh thành. Đền tuy rộng lớn, có vẻ cổ-kính, có những tượng cổ như hạc, rùa và phổng dáng hương, nhưng hình như đền không có bia kí hoặc bút-tích gì khác đáng kể. Ấy vì ngôi đền này nguyên dựng ở Thăng-long, được dời vào đây khoảng đầu đời Gia-long (1). Tuy sự ấy đã làm tôi hơi thất vọng, nhưng tôi vẫn làm quen với « cụ từ » giữ đền này. Trải qua nhiều giờ trò chuyện khăn-thiết dò la, tôi vẫn mong tìm thấy sách tàn giấy cũ gì tự đời Lê sót lại. Một hôm, sau khi phản-nản với cụ vì sự ngày hôm trước tôi đã vất-vả cưỡi xe đạp viếng Lam-sơn mà không thấy dấy mực gì xưa, cụ từ đứng dậy vào nhà trong. Chốc lát cụ mang ra một quyển sách nhỏ, đáng hình không cũ mấy. Cụ trao sách cho tôi vừa bảo đó là một bản sao sách cũ chép sự-tích các vua Lê.
Nguyễn Biểu một gương nghĩa liệt
Ngày tôi còn bé, ở làng, hàng năm đến ngày mồng một tháng bảy thì nghe người nhà nói : ” Hôm nay tế Đức thánh Nghĩa-vương chắc giời sắp có mưa”. Quả thực, chiều lại, mây đen kéo đầy giời, chớp lòe, sấm động làm cho ai cũng chắc là uy-linh Đức thánh đã làm chuyển giời động đất. Vẫn biết ấy chỉ là một sự ngẫu nhiên, nhưng cũng đủ chứng lòng tôn-kính của dân-chúng đối với một vị trung-liệt thờ ở làng bên cạnh.
Bên con đường quan-lộ đi từ Vinh lên Lào qua miền Na-Bẹ, cách Vinh chừng 13 cây số (xem bản đồ) có một ngôi đền nấp sau một đám cây cao. Người đi đường ai qua đó cũng đều ngả nón và dẫu đương nói chuyện ồn-ào cũng nín hơi. Thế không phải là vì đền đẹp lộng lẫy đâu. Sân đền tuy rộng nhưng từ cửa vào cho đến tường trong đều rêu phủ lem-nhem. Dân trong miền Nghệ-Tĩnh không hay cúng bái xằng xiên. Nhưng lúc nào có việc quan-hệ như kỳ-yên, cầu-đảo cũng thường tới cúng ở đền này.
Vậy Đức thánh Nghĩa-vương là ai, sự-nghiệp đã có gì mà dân-gian sùng bái như vậy