Đại Nam quốc sử diễn ca

Bản Đại – Nam Quốc-sử diễn-ca này do ông Hoàng Xuân-Hãn phiên âm theo đúng nguyên-văn chữ nôm bản khắc năm 1870. Vì thế có nhiều chữ khác với các bản quốc-ngữ đã in ra từ trước đến nay.

Trong nguyên-bản, bài ca không chia ra từng đoạn từng mục, và có lời giải bằng Hán-văn. Nhưng lời giải ấy có chỗ thì quá vụn vặt, có chỗ thì quá sơ-lược, có chỗ thì sai hẳn chính-sử.

Nhà xuất bản soạn riêng lời giải để ước-lược, bổ khuyết và định-chính; lại chia bài ca ra từng phần, từng đoạn từng mục để tiện việc tra cứu.

Ông Vũ Đăng-Châu đã giúp nhà xuất-bản trong việc phân đoạn, chú-thích và soạn lời giải.

Các văn cổ về Hà thành thất thủ và Hoàng Diệu

Trong tập sách này, chúng tôi góp những bài văn kể chuyện hoặc vịnh thời cuộc và nhàn vật ở Hà Nội trong hai vụ người Pháp đánh Hà Nội vào năm 1873 và 1882. Bài đầu là HÀ THÀNH THẤT THỦ CA, kể chuyện Hà Nội thất thủ hai lần, và tình cảnh nhân dân ở Bắc sau cuộc thứ hai. Thể văn là song thất lục bát. Bài thứ hai là HÀ THÀNH THẤT THỦ CHÍ CÔNG QUÁ CA, kể chuyện thất thủ năm 1882, đề ca ngợi tiết thảo của quan tổng đốc Hoàng Diệu, và chế diễu các quan khác. Thường gọi bài này là HÀ THÀNH CHÍNH KHÍ CA, hay gọi tắt là CHÍNH KHÍ CA. Thể văn là lục bát.

Đoạn thứ ba là ĐIẾU HOÀNG DIỆU, gồm ba bài tự sự và khen quan tổng đốc, làm bằng lối văn ca khúc, bốn bài thơ chữ Hán và hai đôi câu đối liền của quan tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng và của quan khâm sai tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc. Chúng tôi có dịch các bài thơ và câu đối ấy.

Đoạn thứ tư là HÀ THÀNH THẤT THỦ ÂN gồm chín bài thơ thất ngôn bát cú, luận công tội của các quan tỉnh Hà Nội. Để mục cũng chúng tôi đặt. Cuối cùng sẽ phụ lục những bài dịch Hán văn hay Pháp văn có liên can đến việc Hà Nội năm Nhâm-Ngọ. Những bài này đều là những chứng trực-tiếp cho cuộc xử án các nhân-vật đương thời. Giá trị các tài-liệu ấy về lịch-sử rất quý.

Thư gửi ông Nguyễn Đức Hiền (1/12/1994)

Chúng ta là những kẻ “một hội một thuyền” ân ưu vận nước trong sáu bảy mươi năm nay. Không cần đàm đạo lâu dài cũng thấu lòng cảm nghĩ. Các Bác đã đứng mũi chịu sào, “biết mấy phen gian khổ mới có ngày nay”, thành quả nước nhà độc lập và thống nhất là điểm trọng. Còn tôi cảnh ngộ tuy khác,nhưng đã có gắng giữ tấm trung kiên để dự bị phòng khi giúp ích, và nhất là trù tính tương lai dân tộc vững chắc giữa thế giới hoà bình

Lịch và lịch Việt Nam

Sau đây, tôi sẽ trình bày những nguyên-lí của phép ÂM-DƯƠNG Lịch, và tuy tạm diễm, tôi sẽ so-sánh với các phép lịch khác. Cuối cùng, tôi sẽ xét những phép lịch dùng ở nước ta. Điểm đặc biệt là nước ta dùng lịch khác lịch nhà THANH ở Trung-quốc từ năm 1644 đến năm 1612. Để giúp các nhà nghiên cứu Việt-sử, tôi sẽ trình bày vắn-lược những thành tựu của những công trình tính lại lịch ĐẠI-VIỆT trong khoảng thời-gian ấy.

Gốc tích các chúa Trịnh và một bức thư nôm của Trịnh Kiểm

Đọc thư, ta thấy rằng Trịnh Kiểm, cũng như mọi người trong thời xưa, rất tin thuật phong-thủy, tin sự đặt mồ mã tổ tiên rất có ảnh-hưởng đến sự nghiệp của con cháu. Đọc các chuyện xưa, như trong sách Công-dư tiếp-kỷ thì đủ thấy. Theo khoa-học ngày nay thì đó chỉ là dị-đoan. Nhưng đứng về phương-diện tâm-lí thì chính đức tin vào phong-thủy khiến nên thuật ấy rất có ảnh-hưởng về sự hành-động, vậy về sự-nghiệp, của con người xưa. Những điểm lạ, những hiện-tượng bất thường kể trong gia-phả chưa hẳn là đã được bịa ra. Đó có thể chỉ là những hiện-tượng thiên-nhiên, có duyên-do lý-học; nhưng với tâm-thần tin điềm thụy thì con mắt thấy ra một cách dị-thường.

Trịnh Kiểm mồ côi từ khi sáu tuổi, chắc bị thất học hoàn-toàn. Đọc tờ truyền nầy ta không hề thấy vết nho-học chút nào. Còn như trong Thế-phả chép câu trả lời của Trịnh Kiểm « ngã ông tức nhược ông » (lời Lưu Bang Hán Cao-tổ, chép trong Sử-kí), thì đó chẳng qua là con cháu đời sau dẫn lời sách để dịch một ý thường của y mà thôi.

Trái lại, lời thư Trịnh Kiểm rất hồn nhiên, như lời nói chuyện thường, nghĩa là không văn-hoa, không dàn-xếp. Ý lặp, ý dứt rồi lại nói, ý ngắm rồi bỏ lững. Lại hay dùng hư-từ, giới-từ làm câu nói có hình thức liên-tục mà lời thành dây-dưa. Bởi những điểm ấy, ta có đây một phần-ảnh của ngôn-từ thường-dân đời xưa khá chắc-chắn.

Những lời thề của Lê Lợi

Năm 1943, theo học-sinh trường Bưởi tản cư vào Thanh-hoá, tôi thường có dịp viếng đền Vua Lê ở thôn Kiều-đại cạnh phía nam tỉnh thành. Đền tuy rộng lớn, có vẻ cổ-kính, có những tượng cổ như hạc, rùa và phổng dáng hương, nhưng hình như đền không có bia kí hoặc bút-tích gì khác đáng kể. Ấy vì ngôi đền này nguyên dựng ở Thăng-long, được dời vào đây khoảng đầu đời Gia-long (1). Tuy sự ấy đã làm tôi hơi thất vọng, nhưng tôi vẫn làm quen với « cụ từ » giữ đền này. Trải qua nhiều giờ trò chuyện khăn-thiết dò la, tôi vẫn mong tìm thấy sách tàn giấy cũ gì tự đời Lê sót lại. Một hôm, sau khi phản-nản với cụ vì sự ngày hôm trước tôi đã vất-vả cưỡi xe đạp viếng Lam-sơn mà không thấy dấy mực gì xưa, cụ từ đứng dậy vào nhà trong. Chốc lát cụ mang ra một quyển sách nhỏ, đáng hình không cũ mấy. Cụ trao sách cho tôi vừa bảo đó là một bản sao sách cũ chép sự-tích các vua Lê.

Nguyễn Biểu một gương nghĩa liệt

Ngày tôi còn bé, ở làng, hàng năm đến ngày mồng một tháng bảy thì nghe người nhà nói : ” Hôm nay tế Đức thánh Nghĩa-vương chắc giời sắp có mưa”. Quả thực, chiều lại, mây đen kéo đầy giời, chớp lòe, sấm động làm cho ai cũng chắc là uy-linh Đức thánh đã làm chuyển giời động đất. Vẫn biết ấy chỉ là một sự ngẫu nhiên, nhưng cũng đủ chứng lòng tôn-kính của dân-chúng đối với một vị trung-liệt thờ ở làng bên cạnh.
Bên con đường quan-lộ đi từ Vinh lên Lào qua miền Na-Bẹ, cách Vinh chừng 13 cây số (xem bản đồ) có một ngôi đền nấp sau một đám cây cao. Người đi đường ai qua đó cũng đều ngả nón và dẫu đương nói chuyện ồn-ào cũng nín hơi. Thế không phải là vì đền đẹp lộng lẫy đâu. Sân đền tuy rộng nhưng từ cửa vào cho đến tường trong đều rêu phủ lem-nhem. Dân trong miền Nghệ-Tĩnh không hay cúng bái xằng xiên. Nhưng lúc nào có việc quan-hệ như kỳ-yên, cầu-đảo cũng thường tới cúng ở đền này.
Vậy Đức thánh Nghĩa-vương là ai, sự-nghiệp đã có gì mà dân-gian sùng bái như vậy

Chinh phụ ngâm diễn ca

Ai đã diễn-ca bản Chinh-phụ-ngâm? Ông Hoàng Xuân-Hãn đã áp-dụng phương-pháp khoa-học và nghiên-cứu tinh-xác để tham-khảo áng văn tuyệt-tác ấy. Ngoài bản dịch mà ta thường biết, ông đã tìm ra nhiều bản dịch khác nhau nữa. Đọc những bản dịch sau nầy, đọc những lời chú-thích cặn-kẽ, rõ-ràng, đọc bản chữ nho của Đặng Trần-Côn và bản dịch ra văn xuôi của ông Hoàng Xuân-Hãn, ta có thể hiểu thấu cái hay của văn chương “Chinh-phụ”, và đồng-thời đính-chính ít nhiều sai-lầm mà xưa nay không ai để ý đến. CHINH-PHỤ-NGÂM BỊ-KHẢO của ông Hoàng Xuân-Hãn là một tài-liệu quí giá mà một học-sinh, một nhà giáo, một nhà văn, một người Việt-Nam yêu văn-chương Việt-Nam không thể bỏ qua được.

Mai Đình Mộng Ký

“Bên cạnh Hoa-tiên và Đoạn-trường tân-thanh còn có Mai-đình mộng-ký, văn y như văn Hoa-tiên và văn Kiều. Vậy thì ta thấy sự liên lạc giữa ba tập văn này:

« Nguyễn Huy-Hổ, tác-giả Mai-đình mộng-ký chắc đã thuộc lòng Hoa-tiên và Đoạn-trường tân-thanh trước lúc làm bài ký ấy (1), cũng như Nguyễn Du đã thuộc lòng Hoa-tiên khi làm tập Đoạn-trường tân-thanh »

Vả lại Nguyễn-Du, lúc thiếu-thời, rất hay giao-du với văn-sĩ Trường-lưu: ảnh-hưởng của sự giao-du ấy rất lớn. Nay ta đọc Mai-đình mộng-ký ta thấy từ cách dùng chữ đến cách đặt câu đều giống như trong Hoa-tiên và Kiều, ta phải coi ba áng văn ấy là của một phái, một nhà, truyền từ người nọ đến người kia, của « Hồng-sơn văn-phái ».

Ai cũng biết Kiều, nhiều người biết Hoa-tiên. Đến như Mai-đình mộng-ký thì không mấy ai được đọc, trừ một số ít người ở La-sơn và Can-lộc. Một áng văn hay như vậy mà bị mai-một trong gần trăm rưỡi năm, kể cũng hơi lạ! Chúng ta há không nên sửa lại sự bất-công ấy hay sao