Thư gửi ông Nguyễn Đức Hiền (1/12/1994)

Bản trích OCR từ file scan, có thể còn sai sót. Bản scan PDF ở cuối bài.

Ngày mồng 1 tháng 12 năm 1994
Thân gửi Bác NGUYÊN ĐỨC HIỂN ở Hànội
Thưa BÁC
Tôi xin lỗi đã vô tình đáp chậm các thư của Bác. Tuổi già nên lần thấn, sơ dàng, chậm chạp, đó là nguyên nhân chính. Đối với bản thảo của Bác kể chuyện về tôi, thì còn cớ khác. Người giao sách cho tôi chỉ cho biết đó là sách tặng bởi em tôi. Thấy đề mục ở bìa, tôi khá bức mình, vì thường sợ các bạn quá yêu, đến đổi phê bình mình quá đáng. Tôi đã ngăn ngại chưa dám mở ra đọc. Nay, có người nhà cho biết rằng Bác giục tôi cho biết ý kiến về cuốn ấy. Tôi vội đọc: mới hay rằng có một bức thư dài của Bác ở cuối cuốn, nhắn lời Bác Tổ khuyến tôi về nước trò chuyện cùng các bác. Tôi xin vắn tắt đáp thư Bác và tỏ ý về nội dung bản thảo
sách Bác.
1/ Trước hết, tôi ngỏ lời cảm ơn tấm thịnh tình của Bác Tô và của Bác đối với bản thân tôi. Chúng ta là những kẻ “một hội một thuyền” ân ưu vận nước trong sáu bảy mươi năm nay. Không cần đàm đạo lâu dài cũng thấu lòng cảm nghĩ. Các Bác đã đứng mũi chịu sào, “biết mấy phen gian khổ mới có ngày nay”, thành quả nước nhà độc lập và thống nhất là điểm trọng. Còn tôi cảnh ngộ tuy khác,nhưng đã có gắng giữ tấm trung kiên để dự bị phòng khi giúp ích, và nhất là trù tính tương lai dân tộc vững chắc giữa thế giới hoà bình. Cảm nghĩ của tôi đã cónhịp thổ lộ trong đoạn biên Một vài kí vãng về Hội nghị Đà Lạt và sau đó trong hơn mười bài Khai bút từ năm 1975. Trong buổi hoà bình như ngày nay, tình cảm thường dầy hơn lí trí. Tôi được biết rằng các Bác cũng tổn thất nhiều trong tình ái gia đình vì chiến tranh: tôi rất thông cảm. Tôi cũng vậy. Có lúc muốn về nước một mình, nhưng vợ chồng nay gần đất xa trời, chia cay xẻ ngọt trong hơn sáu chục năm, tôi không muốn mạo sự vô tình mà vĩnh biệt. Nay, nửa tuổi già, bệnh tật, sức yếu, trí mỏi. Sợ không thể còn thấy lại quê hương. Vì đối với riêng tôi, cái thực chất của hai chữ QUÊ HƯƠNG than ái! đã không còn nữa! Thế ấy, nhưng tôi với vũ trụ, tôi không bao giờ quên. Cách mấy năm nay, một bạn vong niên người
Nghệ An tới từ biệt để về nước. Tôi rất thêm sinh tưởng ít, bèn rằng bạn mấy câu sau sau:

Đã hay bốn bể là nhà_
Lam Hồng ta mới thật là quê hương_
Trải bao cuộc biến cuộc thường_
Mà lòng tưởng nhớ yêu thương vẫn tròn_
Người tôi nhắn Nước cùng Non_
Ngày nay Nước cạn Non mòn……tại ta_
Xem đó Bác đủ rõ rằng đối với những mảnh đất nhà, mà tôi đã từng dấn
thân, như đất Thanh, Nghệ, Tĩnh, tình tôi sao dứt được.


2
/ Về cảnh ngộ, tôi không được dự phần giải phóng đất nước, tôi bèn gắng công giải phóng tri thức và văn hoá đồng bào ra khỏi cái khuôn chật hẹp, tùy tiện của con người bị ràng buộc. Thời Pháp thuộc, tôi đã dự bị nền Trung và Đại học tương lai bằng cách lập phương pháp và khối công đặt Danh từ Khoa học. Sau khi cuộc kháng chiến giải phóng bắt đầu, thấy những người ở vùng
Pháp trị không nhận thức đúng giá trị người kháng chiến, tôi đã soạn sách thành Thất thủ (1950), dự xuất Đại Nam Quốc sử diễn ca (1949), trước tác Lý Thường Kiệt (1949). Thấy các trường thực dân mở trở lại, tôi sợ các lối cũ viết sử và dạy sử lại được dùng, tôi bèn tìm cách in ra những sách La Sơn Phu Tử và Thường Kiệt và sau này nhiều bài đăng trong Tập san sử địa ở Sài Gòn và Tạp chí Khoa học Xã hội ở Paris. Muốn mở cho các học giả sau ngày giải phóng một ngành khoa học đặc thù và có tầm quốc tế, tôi đã nghiên cứu Chữ Nôm và tái lập các áng văn Việt xưa, chưa phổ biến. Những sách Thi Văn Việt Nam (1950) và Chinh phụ ngâm bị khảo, vân vân, thuộc về loại ấy. Trong lúc giảng bảo tồn cổ văn, tôi chú ý nhiều về các văn bản cũ, và nêu sự yếu kém về ngành văn học sử của các nhà giảng dạy về văn. Tôi những ước được đi tìm những văn bản cũ.

Mùa xuân năm 1951, viên “Tổng trấn Bắc Kỳ”, một quan lại cũ (Nguyễn Hữu Trí), quen biết, cho tôi hay rằng kẻ sắp thay chân y, có ý bắt tôi, và y cấp cho tôi thông hành để đi lánh. Vì sự ấy, tôi sang Âu châu, được toại nguyện đi tìm Việt ngữ xưa trong những văn bản còn tồn tại trong các thư viện. Vì lẽ tôi đã chuyên cứu chữ nôm. Thư viện quốc lập Pháp đã nhờ tôi làm thư mục cho một mớ bản thảo cũ tích trữ đã hơn trăm năm. Tôi được nhịp khám phá ra chừng hai mươi bản viết chữ nôm soạn vào khoảng đầu công kỉ thứ 17. Ấy là một phần tác phẩm của giáo sĩ dòng Tên (Jésuites) người Ý, kí tên Chilônima Maiôrica (Girolamo Maiorica), bạn đường với A. De Rhodes, vào Đàng Trong giảng đạo trong 5 năm: bị trục xuất, rồi lên đất xứ Nghệ năm 1631, giảng đạo ở Trần Đình, làng Triều Khẩu (sông Rum). Trong khoảng 1634-1642, soạn nhiều sách về lời các thánh đạo Đa Tô bằng Việt ngữ. Các phẩm ấy được những đồ đệ còn tên tuổi đến ngày nay chép lại bằng chữ Nôm (Archivum Historicum S.I. XXII -1953). Sau đó, tôi được đọc nhiều văn bản Việt ngữ xưa, ở hội sở Truyền giáo Pháp, hoặc bằng chữ Hán, chữ nôm, hoặc bằng chữ la tinh (chưa được xuất). Năm 1954, tôi sang thành Rô-ma, được vào xem thư viện Đông Tên và đọc những văn bản Việt ngữ nay còn tại đó. Ngoài một bản nôm, tôi đã được biết nhiều giáo đồ Việt từ đầu đã dùng rất sành sõi chữ “quốc ngữ” mới: và phát giác rằng một người Việt đương thời, Bêni tô Thiện đã soạn một đoạn biên khả dài, lược chép sự tích, địa đồ và phong tục nước ta, biên bằng “quốc ngữ”, rồi gửi cho giáo sĩ Philipe Marino, người Ý để y soạn sách Tường thuật mới và lạ về các vương quốc Đông Kinh và
Lào. Sách được dịch ra Pháp ngữ năm 1666 ( Tạp chí Đại học Huế 1950). Sau đó, Thư viện VATICAN giao cho tôi xét và soạn thư mục một số sách “Đông phương”. Tôi được nhịp khám phá ra những tác phẩm của một học giả Việt, theo đạo Đa Tô, bị cầm giữ lại tại nước Bồ Đào Nha vào đầu thế kỉ 19. Tên học giả ấy là Philippe Bình quê vùng Thái Bình, nghề “thầy giảng” đạo Đa Tô, được dân có đạo bầu cùng chừng mười người đồng đạo, vào cuối đời Tây Sơn, đáp tàu buôn Âu châu, định đi Roma xin Giáo hoàng cho phép dòng Tên trở lại xứ mình (bấy giờ dòng ấy bị cấm tại Đông Á bởi Giáo hoàng). Nhưng đến nơi thì Giáo hoàng đã
bị Napoléon bắt đầy tại Avignon. Trên đường về nước, P. Bình và tất cả bầu bạn đều bị vua Bồ Đào Nha bắt giữ ở lại trong một viện tu cho đến lúc tất cả đoàn mất hết (sau 1822). Trong lúc bị giam lỏng, chắc P. Bình giữ trách nhiệm cầm đầu. Y để lại tài liệu, cảo bản rất nhiều. Một phần được đưa về thư viện Vatican. Tôi đã thấy nhiều quyển sách “giấy học trò”, viết chữ “quốc ngữ” rất đẹp, ghi chép rất tỉ mỉ, các sự trong đời sống hàng ngày, những chuyện trông thấy trong lúc đi đường, những chuyện về đời các thánh đạo, các chuyện tu đạo vân vân. Lí thú là có một tập thơ thất ngôn Đường luật, vừa nôm vừa Hán, mà tác giả đã tùy hứng soạn; trong đó có tả hải đảo Saint Hélène trước khi Napoléon bị đầy ra đó, và bài thóa mạ Napoléon đã bắt giam Giáo hoàng Pie II.
Trong lúc ấy, hội nghị Geneve nhóm họp. Muốn tránh mọi sự liên phóng đông tây, tôi đã dùng chữ nôm để thông tin với phái đoàn ta do bác Tô điềukhiển. Được cả hai bên khuyến khích, tôi đành so đo cuộc tìm văn bản cũ, mà đi gặp các bạn cũ nhiều lần, tôi nhận ý sẽ về Nam để nối liên Nam Bắc. Nhưng sự chẳng tuỳ lòng. Những làn sóng chính trị thế giới tương tranh liên đây vô minh
dắt nước ta, đã khiến tôi phải tìm con đường xuất thế khác. Năm 1956, tôi tìm học nghề môn mới: kĩ sư Năng lượng nguyên tử tôi nhận giúp việc cho một số tư. Về phần nầy, cũng như trong nhiều phần khác, việc tôi làm không có gì quan trọng lớn như Bác có thể tưởng tượng. Lúc bấy giờ, Pháp còn chỉ muốn dùng, trong kế hoạch lò nguyên tử, chất Uranium thiên nhiên, để khỏi phụ thuộc Hoa Kì . Trong trường hợp ấy, tôi có tìm được một chương trình đặc thù để tính năng lượng của một lò nguyên tử và sự biến chuyển của nó với thời gian (tạp chí Industries atomiques số 5 – 8 Genève-Paris). Điện cục Pháp có dùng chương trình ấy để thích nghi hóa các lò.. Nhưng sau đó. Pháp phải theo tuyến Uranium tăng cường, cho nên chương trình kia chỉ còn tính cách toán học ứng dụng. Sau đó, trong bốn mươi năm, tôi không có đủ mọi phương tiện đi lùng các văn bản Việt ngữ nữa mà cũng không có đảm trách để phát biểu đầy đủ dễ dàng. Tôi chỉ kê cứu những tài liệu sẵn có, và khuếch trương những ý kiến từng quen. Cho xuất bản Bích Câu kì ngộ. Hoàng hậu Ỷ Lan, văn các tổ Trúc Lâm, Thiền Tông bản hạnh, thân thế Hồ Xuân Hương, những chuyện tiếp sứ Thanh đội Lê, Lê Quý Đôn đi sứ Thanh. Lê Quang giữ tóc ngồi từ ở Bắc Kinh, những lời thề của Lê Lợi, nhóm chống Tây Sơn. Nguyễn Công Trứ về hưu, những văn nôm Phật giáo, vân vân; và Lịch và lịch Việt Nam, một công cụ cần cho những nhà nghiên cứu Việt sử. Đó là công việc của người ăn đậu. Còn các Bác, theo dấu Cụ Hồ đã hành động và đem đến sự độc lập và thống nhất đất nước. Lấy tự cách sử học mà ngẫm nghĩ thì suốt khoảng sinh tồn tổ quốc, từ xưa, chỉ có hai cuộc khá tương đương. Trưng Trắc giải phóng khỏi Hán thuộc nhưng liền bị bại. Ngô Quyền chỉ ngăn được kẻ ngoại xâm, cũng như Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ đời sau. Lê Lợi mới thật có công phá xiềng Minh thuộc, nhưng quyền Minh bám chưa sâu và vũ khí đang thời khá ngang nhau. Chỉ có cuộc giải phóng vừa qua mới khó khăn mà dân ta làm được. Ấy thật nhờ lòng yêu nước, trí sáng suốt, kinh nghiệm rộng, biết tùy thời, biết tri chỉ của Bác Hồ mà ngày nay ta được độc lập và thống nhất. Tôi nghĩ rằng noi gương Bác, đạo đức, ôn hoà, trung dung mà quả quyết, thì kế hoạch dân ta sẽ chóng đem lại hai mục tiêu chưa đạt: hạnh phúc về kinh tế và tự do về tinh thần. Thưa Bác, không kể hết những người Bác phải đề cao thân thế, chú cần gì chú ý đến tôi.
3*/ Nhưng Bác đã gửi bản thảo kia cho tôi, tôi phải đính chính một số điểm không đúng về phần cụ thể. Tôi xin kể ra sau đây:
1.) Thời điểm sinh, lí trưởng làng khai không đúng với sự thực, thấy ở số Tử vi: ngày 14/1/1908. Vì đã viết làm vào “thể căn cước” xưa thì không đổi được.
2.) Về quá trình học trong nước thì như sau: 6 tuổi nhất tiểu học tại trường Thanh Hoá, cùng lớp với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, con Phạm Ngọc Tín, giám đốc trường. Trong bốn năm (1922-1926), học tiểu trung ngạch ở “trường Quốc ngữ” Vinh, vào lớp thứ ba. Đợt thứ nhất Phạm Thiều, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Đinh Văn Thường ; đợt thứ hai có Nguyễn Xiên. Về trung học, tôi có vào lớp nhất trường Buổi, nhưng chỉ mượn chỗ trú chân để cùng các anh Nguyễn Xiên, Nguyễn Văn Đình, Nguyễn Văn Tĩ, Nguyễn Khoa Phong (đã bị “ổi để tang Phan Chu Trinh” phải nằm lại lớp) tự dọn học thi phần nhất “tú tài tây”. Đến kì thi 1927, chúng tôi đều thi “tự do” trờ đậu, và cũng là những người đầu tiên xứ Trung Kì đậu khoa cử mới. Vì vậy, các quan tỉnh Nghệ An, trong đó có tổng đốc Phạm Liệu tiến sĩ quê Quảng Nam, án sát Nguyễn Khắc Niêm hoàng giáp quê Hà Tĩnh, đã mừng chúng
tôi một đôi câu đối trở thành lời sấm: “Hồng Lam chung đúc, tự cổ đa tài, diễm đạo tân khoa qui cựu tộc Âu Á văn minh, chí kim đồng hoá, giao tường xích kỳ dẫn thanh niên” (Hồng Lam nung đúc, từ trước nhiều tài, vui nói tân khoa về cựu tộc: Âu Á văn minh, đến nay đồng hoá, hãy đem cờ đỏ dẫn thanh niên) Các Cụ đã mê mải điển tích (Cờ đỏ đầy trò tích Hán Cao Tổ) mà quên lũ mật thám cho Pháp đang rình mò bên cạnh.
Tôi vào trường lí xê Pháp, học đậu tú tài toán năm 1928. Về phần học tại Pháp, bản thảo chép nhiều điểm sai. Chính phủ Đông Dương, chứ không phải hội Du học Nam triều, cấp cho tôi học bổng để vào đại học toán lí xê Saint Louis tại Paris, học thi vào các Trường Lớn. Năm 1930, tôi thi đỗ vào trường Normale Supérieure và trường Polytechnique. Cạn nghĩ, tôi đã chọn vào trường sau. Lúc ra trường (1932), tôi vào trường Ponts et Chaussées, học hết khoá (1934). Vì là không Pháp tịch, tôi cũng biết không được quyền làm việc xứng đáng ở nước nhà. Nhưng, nhân có tổ chức du lịch sang Đông Dương, mùa hè năm 1934, tôi về nước thăm nhà và đi dò ý những bạn Pháp đồng trường cầm đầu các sở hoả xa, công chánh trên thuộc địa. Đồng thanh họ khuyên đổi nghề. Vì vậy, tôi trở lại Paris, thi lấy bằng cử nhân toán (1935) rồi năm sau đậu bằng thạc sĩ (1936) và được tuyển về dạy tại Trường Buổi, bấy giờ đã đổi thành lí xê trung học như những trường Tây. Tôi giữ chân giáo học cho đến ngày Nhật phế chính quyền Pháp tại Đông Dương. Sau bốn tháng giữ trách nhiệm giáo dục trong nội các Trần Trọng Kim, tổ chức trung học quốc gia, rồi được tự chuyên ngành khảo cứu, ngoài những chức trách chính trị nhỏ, như dự Hội nghị Đà Lạt.

Theo ý muốn của Bác, tôi viết dài dòng trả lời bức thư Bác. May chi các Bác thông cảm cho. Tôi xin chúc các Bác luôn luôn khỏe mạnh.
HOÀNG Xuân Hãn